Gả Cho Một Kẻ Què
7
Một tiểu đồng chạy tới, nói gì đó bên ngoài cửa sổ, người trong xe lặng lẽ hạ màn che xuống, chẳng mấy chốc, xe ngựa quay đầu rời đi.
Cảm giác như có bàn tay nào đó bóp c.h.ặ.t lấy trái tim ta, khiến ta khó thở.
Ta không hiểu chuyện gì đang xảy ra với mình.
Rõ ràng trước giờ ta rất ghét hắn, vậy mà giờ thấy hắn trượt kỳ thi, lòng lại cảm thấy khó chịu vô cùng.
Về nhà, ta gặp Yến Tiêu Thăng.
Hắn ngồi trên xe ngựa, vẻ mặt đắc ý, nở nụ cười với ta.
Trong lòng ta hơi bực bội, chỉ khẽ gật đầu rồi quay lưng rời đi.
***
Sáng hôm sau, trong bữa sáng, cha ta đột nhiên nói: “Nghe nói tiểu công t.ử nhà họ Tạ đã tòng quân rồi.”
Như sét đ.á.n.h ngang tai, ta run lên, không dám tin: “Gì cơ? Nhưng hắn là người đọc sách, lại còn…”
Lại còn là một người què nữa.
“Phải, ai mà ngờ được? Bên ngoài đều nói Tạ Hoài Chu vì trượt kỳ thi mà chịu cú sốc lớn.”
Ta c.ắ.n c.h.ặ.t môi, các đốt ngón tay siết c.h.ặ.t trắng bệch, vẫn không thể tin được. Sao kiếp này vận mệnh của hắn lại thay đổi lớn đến vậy?
Chẳng lẽ là vì mấy lời ta đã nói với hắn?
Ta nắm c.h.ặ.t đũa, khớp ngón tay trắng bệch, trong lòng cảm thấy hối hận.
Ta không nên nói những lời đó, thực ra dù Tạ Hoài Chu không theo đuổi công danh, cứ sống một đời bình thường, vui vẻ cũng chẳng có gì là xấu.
Giờ hắn đã tòng quân, không biết sẽ gặp phải bao nhiêu hiểm nguy.
Lần này, là ta đã sai.
14
Ba ngày sau, cả nhà họ Trình đến chùa Nam Sơn để cúng trả lễ.
Trước kỳ thi, đại phu nhân đã khấn vái trước Phật, giờ ca ca ta thi đỗ, đương nhiên phải đến trả lễ.
Trên đường đi, ta ngồi chung xe ngựa với đại phu nhân và Trình Hoàn Bích. Bà nắm tay Trình Hoàn Bích trò chuyện, coi ta như không khí.
Chỉ đến trước khi vào chùa, bà mới lạnh mặt cảnh cáo: “Ngươi xưa nay vô phép, ta vẫn nhắm mắt cho qua, không chấp nhặt với ngươi, nhưng Nam Sơn Tự là chốn thanh tịnh, tốt nhất ngươi đừng gây chuyện, bằng không ta quyết không tha.”
Ta mím môi cười: “Vâng, mẫu thân.”
Bà ta không thích ta gọi bà là “mẫu thân,” nhưng không thể bắt bẻ được, chỉ đành đen mặt đi vào.
Chùa Nam Sơn nằm trong núi, vô cùng yên tĩnh, nhưng lại rất đông đúc hương khói, bên trong là không ít khách hành hương như nhà ta đến để trả lễ.
Cha và ca ca chỉ ở lại một ngày rồi phải về lại Kinh Đô vì còn công việc, hẹn mười ngày sau quay lại đón chúng ta.
Đêm thứ ba, ta không ngủ được, một mình lang thang, vô tình đi vào đại điện không có ai canh gác.
Bức tượng Phật nghiêm trang, khiến lòng người tự sinh lòng kính trọng.
Ta tiến lên thắp một nén nhang, chắp tay thành kính khấn vái.
Điều ước thứ nhất, mong linh hồn tiểu nương được an nghỉ, có thể đầu t.h.a.i vào gia đình tốt.
Điều ước thứ hai, mong kiếp này ta có thể lấy được một lang quân như ý, không còn phải nhìn sắc mặt người khác mà sống.
Điều ước thứ ba…
Ta mở mắt, nhìn vào đôi mắt từ bi của Đức Phật.
Điều ước thứ ba, mong Tạ Hoài Chu được bình an, thuận lợi và trọn vẹn cả đời.
Ta quỳ xuống cúi lạy, vừa định đứng dậy thì bỗng nghe thấy tiếng la hét của khách hành hương từ phía sau, sau đó là tiếng đ.á.n.h nhau ầm ĩ.
Ta sững người giây lát, rồi lập tức nhận ra, có chuyện xảy ra!
Ta vội vã chạy ra khỏi đại điện, chỉ thấy bên ngoài, một toán cướp có vũ trang từ phía sau núi đột kích vào chùa Nam Sơn, các nhà sư đều cầm gậy chống cự, khách hành hương từ các phòng ốc ào ra, chạy trốn khắp nơi, hỗn loạn vô cùng.
Ta không ngờ một nơi thanh tịnh như chùa chiền cũng có thể bị cướp bóc.
Vài người chạy qua trước mặt ta, ta cũng định chạy theo, nhưng lại nghe thấy tiếng khóc.
Đó là tiếng khóc của vài nữ khách hành hương đang bị kéo đi.
Ta do dự một lát, cuối cùng vẫn dừng bước, quay lại đại điện, cầm lấy cây trượng hàng ma bằng đồng xanh bên cạnh, lao về phía đó.
Lúc nhỏ ta sống ở chốn thị thành, để kiếm miếng ăn đã không biết bao nhiêu lần bị đ.á.n.h đập, sớm đã luyện được sự linh hoạt và lì lợm, ôm theo cây trượng hàng ma nặng bốn mươi cân, đ.á.n.h loạn cũng có thể g.i.ế.c được vài tên cướp.
Nhưng tình thế quá nguy cấp, ta chỉ cứu được hai người. May nhờ có các nhà sư phía trước ngăn cản, chúng ta mới trốn thoát.
Dưới sự dẫn dắt của một tiểu hòa thượng, một nhóm người chúng ta lẩn trốn vào một hang động ẩn sau thác nước.
Có mấy tên cướp đuổi theo nhưng không tìm thấy chúng ta, đành phải quay lại.
Đại phu nhân không biết được ai cứu, cũng chen chúc ở cùng chỗ với chúng ta.
Bà ta tóc tai bù xù, khuôn mặt đầy nước mắt, khóc đến sắp ngất: “Hoàn Bích của ta bị bắt đi rồi, ta phải đi tìm nó!”
Ta buộc phải bịt miệng bà lại, tránh để bà làm kinh động thêm bọn cướp.
Bầu trời đêm đen như mực, tiếng c.h.é.m g.i.ế.c trong chùa vẫn không ngừng vang vọng, từng tiếng la hét t.h.ả.m thiết vọng xuống dưới chân núi, đến mức tiếng thác nước ầm ầm cũng không che lấp nổi.
Chúng ta ai nấy đều ướt sũng, vừa lạnh vừa sợ, chen chúc nhau, không dám thở mạnh.
Cả đám người, ngoài tiểu sa di dẫn đường, còn lại đều là nữ quyến, đứng trước nguy cơ sống còn, dù là những phu nhân bình thường rất điềm tĩnh cũng không tránh khỏi run rẩy vì sợ hãi.
Đại phu nhân co rúm lại bên cạnh ta, nín khóc, siết c.h.ặ.t lấy vạt áo của ta.
Ta thầm thở dài, không ngờ trong tình cảnh hiểm nguy thế này, ta và đại phu nhân lại rơi vào cảnh này.
Không biết bao lâu trôi qua, trên núi bỗng trở nên yên ắng, tiểu sa di dẫn chúng ta vào hang đi ra dò xét, thông báo rằng bọn cướp đã cướp bóc xong và chạy vào sâu trong núi rồi.
Chúng ta không dám trở về chùa, chỉ có thể nhanh ch.óng rời hang, đi đến ngôi làng gần nhất để tìm chỗ trú ẩn.
Mọi người đều đồng ý.
Chỉ có đại phu nhân, đã khóc đến mụ mị đầu óc, không ngừng cầu xin ta: “Chúng ta không thể đi, Hoàn Bích bị bắt rồi, Hoàn Châu, chúng ta đi tìm nó được không? Có lẽ nó vẫn còn trong chùa, con thân thủ tốt như vậy, cứu được người khác, hãy cứu lấy tỷ tỷ con đi!”